Dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện theo hướng bảo đảm thống nhất, đồng bộ nhưng không ràng buộc chi tiết, qua đó mở rộng dư địa cho địa phương chủ động triển khai phù hợp thực tiễn.
Trong quá trình xây dựng dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030, cơ quan soạn thảo đã tiến hành lấy ý kiến rộng rãi. Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương đã gửi xin ý kiến 36 bộ, ngành Trung ương và 34 tỉnh, thành phố; đến nay nhận được phản hồi từ 15 cơ quan.
Điểm đáng chú ý trong lần hoàn thiện này là cách tiếp cận xuyên suốt: Bảo đảm thống nhất với hệ thống văn bản cấp trên, song không quy định quá chi tiết những nội dung mang tính đặc thù địa phương. Quan điểm này được thể hiện rõ ở nhiều lĩnh vực như thủy lợi, phòng, chống thiên tai, phân bổ nguồn lực, bảo vệ môi trường và phát triển sản xuất.
Không ràng buộc tiêu chí cứng
Tại Điều 2 về nguyên tắc thực hiện, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên đề xuất bổ sung nguyên tắc ưu tiên bố trí nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo không đưa nội dung này vào dự thảo, do nguyên tắc phân bổ nguồn lực đã được quy định tại Quyết định 16/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Ở lĩnh vực thủy lợi, đề xuất bổ sung tiêu chí lựa chọn công trình ưu tiên như phục vụ sản xuất hàng hóa tập trung, vùng thiếu nước hoặc có nguy cơ thiên tai cao được đánh giá là phù hợp thực tiễn. Dù vậy, dự thảo không quy định thành tiêu chí cụ thể nhằm tránh hạn chế tính linh hoạt trong triển khai tại địa phương.

Một góc xã nông thôn mới Yên Lạc, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: THANH NGA
Cách xử lý tương tự cũng áp dụng với nội dung phòng, chống thiên tai. Kiến nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường Ninh Bình về việc làm rõ tiêu chí hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu được tiếp thu ở mức điều chỉnh câu chữ, chuyển từ “nâng cao” sang “tăng cường” năng lực phòng, chống thiên tai cấp xã, nhưng không quy định chi tiết do đặc thù từng vùng.
Đáng chú ý, nhiều nội dung mang tính kỹ thuật, thiết thực từ Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai đã được tiếp thu, như kiện toàn lực lượng xung kích, tổ chức tập huấn, diễn tập, đầu tư trang thiết bị, xây dựng kế hoạch, nâng cấp công trình và hệ thống cảnh báo sớm, cũng như lồng ghép phòng, chống thiên tai vào quy hoạch phát triển địa phương.
Mở rộng không gian tổ chức thực hiện
Đối với công tác truyền thông, nhiều đề xuất cụ thể như biên soạn tài liệu, tổ chức cuộc thi, biểu dương điển hình không được đưa nguyên văn vào dự thảo. Theo cơ quan soạn thảo, việc liệt kê chi tiết có thể không bao quát hết các hình thức thực tế, do đó chỉ quy định theo nhóm hoạt động chính.
Tương tự, đề xuất sử dụng hệ thống truyền thanh cấp xã để tuyên truyền phòng, chống thiên tai cũng không được quy định riêng. Lý do được đưa ra là cần bảo đảm tính khái quát, tránh bó hẹp các kênh thông tin tại địa phương.
Trong lĩnh vực phát triển sản xuất và tái cơ cấu nông nghiệp, một số ý kiến cho rằng nội dung còn mang tính định hướng. Tuy nhiên, cơ quan soạn thảo giữ quan điểm đây là nội dung đã được quy định trong chương trình mục tiêu quốc gia; việc bố trí nguồn lực thực hiện sẽ tuân theo các quy định của pháp luật về đầu tư công và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Một số góp ý kỹ thuật đã được tiếp thu nhằm bảo đảm tính chính xác, tránh trùng lặp. Chẳng hạn, cụm từ “chăn nuôi tập trung” được điều chỉnh thành “lĩnh vực chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi tập trung”, đồng thời loại bỏ nội dung trùng lặp về hỗ trợ hạ tầng.
Ở lĩnh vực môi trường, đề xuất quy định cụ thể thời gian phản hồi của cơ quan quản lý sau khi nhận phản ánh từ người dân qua Zalo hoặc đường dây nóng không được chấp nhận. Cơ quan soạn thảo cho rằng nội dung này phụ thuộc vào phương án của từng địa phương, đồng thời điều chỉnh cách diễn đạt theo hướng “phương thức kết nối trực tiếp” giữa người dân và cơ quan quản lý môi trường.
Theo giải trình, dự thảo thông tư sau rà soát tập trung làm rõ các nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước, bảo đảm tuân thủ quy định cấp trên và tính đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Với những nội dung đặc thù vùng miền, việc quy định ở mức khái quát được xác định là giải pháp phù hợp, tạo điều kiện để địa phương chủ động, linh hoạt triển khai theo điều kiện thực tế.