Tính đến hết tháng 8/2026, tỷ lệ giải ngân vốn kéo dài của Chương trình xây dựng nông thôn mới tại Phú Thọ mới đạt 24,3%. Nhằm làm rõ nguyên nhân cốt lõi và các giải pháp tháo gỡ khó khăn, ông Nguyễn Nam Cường - Phó Chánh Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Thọ -đã có cuộc trao đổi với Báo Kiểm toán về tiến độ giải ngân, kế hoạch nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở sau khi sắp xếp bộ máy 2 cấp, cũng như định hướng thực hiện Bộ tiêu chí mới giai đoạn 2026-2030 gắn với huy động nguồn lực xã hội hóa.

Tuyến đường sáng - xanh - sạch - đẹp ở xã Nguyệt Đức, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Văn phòng Điều phối Chương trình nông thôn mới tỉnh Phú Thọ
Thưa ông, tính đến hết tháng 8/2026, tỷ lệ giải ngân vốn kéo dài của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới mới đạt 24,3%. Ông có thể chia sẻ những nguyên nhân cốt lõi khiến tiến độ này còn chậm và giải pháp trọng tâm của Sở trong những tháng cuối năm là gì?
Đối với nguồn vốn kéo dài của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, qua rà soát, chúng tôi nhận thấy việc giải ngân còn chậm xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu.
Trước hết, một số địa phương còn lúng túng trong việc rà soát, xác định nguồn vốn chuyển nguồn từ năm 2025 sang năm 2026, phân định nguồn vốn còn nhiệm vụ chi và nguồn vốn đã hết nhiệm vụ chi theo quy định.
Bên cạnh đó, quá trình triển khai các nhiệm vụ sử dụng vốn, nhất là nguồn vốn sự nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do quy trình thực hiện phức tạp, phụ thuộc vào đối tượng thụ hưởng và điều kiện thực tế của từng địa phương. Đối với vốn đầu tư, một số dự án còn vướng mắc về bồi thường, giải phóng mặt bằng, hoàn thiện thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà thầu và điều kiện thi công, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai.
Đặc biệt, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng công việc của cán bộ cấp xã tăng lên đáng kể, trong khi một bộ phận cán bộ còn thiếu kinh nghiệm trong quản lý, triển khai Chương trình. Việc phối hợp quản lý, hạch toán, đối chiếu và cập nhật số liệu giải ngân giữa một số cơ quan, đơn vị có thời điểm cũng chưa kịp thời, đồng bộ.
Để khắc phục những tồn tại trên, trong những tháng cuối năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung phối hợp với các Sở, ngành và địa phương triển khai nhóm giải pháp trọng tâm.
Đơn vị sẽ tập trung rà soát toàn bộ nguồn vốn được phép kéo dài sang năm 2026, xác định rõ số vốn còn nhiệm vụ chi, các nhiệm vụ và dự án đang triển khai cùng khó khăn cụ thể để hướng dẫn xử lý theo thẩm quyền hoặc tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo giải quyết.
Đồng thời, Sở tăng cường đôn đốc các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ sử dụng vốn sự nghiệp; tập trung xử lý vướng mắc về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu đối với dự án đầu tư.
Sở cũng tổ chức kiểm tra trực tiếp tại các địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp để kịp thời tháo gỡ khó khăn; phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước khu vực rà soát, đối chiếu số liệu bảo đảm chính xác.
Trên cơ sở đánh giá khả năng thực hiện thực tế, Sở sẽ tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét điều chuyển vốn đối với các dự án, địa phương không có khả năng giải ngân theo quy định nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.

Các phong trào thể dục - thể thao sôi nổi ở xã Liên Châu, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Minh Anh
Từ thực tế ông vừa chia sẻ, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đội ngũ cán bộ cơ sở vừa gánh vác khối lượng công việc lớn hơn, một bộ phận vừa thiếu kinh nghiệm trong quản lý cơ chế mới. Sở có kế hoạch cụ thể ra sao để tập huấn và nâng cao năng lực cho đội ngũ này trong thời gian tới?
Trước yêu cầu thực tiễn sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định việc hỗ trợ, hướng dẫn và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cấp xã là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm Chương trình được triển khai đúng quy định, hiệu quả và đúng tiến độ.
Trong thời gian tới, Sở sẽ tập trung rà soát, nắm bắt khó khăn, vướng mắc tại cơ sở, nhất là những nội dung liên quan đến cơ chế, chính sách, quy trình tổ chức thực hiện và quản lý nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, từ đó đưa ra hướng dẫn phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương.
Song song với đó, Sở chủ động phối hợp với các Sở, ngành liên quan tổ chức hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh.
Công tác đôn đốc, kiểm tra trực tiếp tại cơ sở sẽ được tăng cường, trong đó ưu tiên những địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hoặc còn nhiều khó khăn để kịp thời xử lý tồn tại.
Ngoài ra, việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan chuyên môn và chính quyền cấp xã cũng sẽ được duy trì thường xuyên, nhất là trong việc rà soát, đối chiếu số liệu, cập nhật tiến độ và xử lý các vấn đề liên quan đến quản lý, sử dụng nguồn vốn.

Lớp tập huấn về Chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới ở Khách sạn Kim Thành (Vĩnh Yên). Ảnh: Minh Anh
Giai đoạn 2026-2030 đánh dấu sự thay đổi đáng kể khi tỉnh Phú Thọ ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới, xã nông thôn mới hiện đại và phân loại thành 3 nhóm xã. Xin ông cho biết những điểm mới cốt lõi, vướng mắc lớn nhất khi áp dụng tại cơ sở và định hướng thực hiện thời gian tới?
Với quan điểm xây dựng nông thôn mới ngày càng thực chất, phù hợp hơn với điều kiện phát triển và khả năng huy động nguồn lực của từng địa phương, trên cơ sở khung tiêu chí của Trung ương, tỉnh Phú Thọ đã ban hành Bộ tiêu chí tại Quyết định số 41/2026/QĐ-UBND ngày 20/7/2026, đồng thời phân loại các xã thành 3 nhóm để có lộ trình thực hiện phù hợp.
Điểm mới cốt lõi là việc phân nhóm xã (theo Quyết định số 1431/QĐ-UBND ngày 07/5/2026 của UBND tỉnh Phú Thọ, toàn tỉnh có 27 xã nhóm 1, 45 xã nhóm 2 và 61 xã nhóm 3) làm cơ sở xác định yêu cầu, nhiệm vụ và ưu tiên đầu tư sát với điều kiện thực tế, tránh cách làm đồng loạt, dàn trải. Bên cạnh mục tiêu đạt chuẩn, tỉnh cũng đặt ra định hướng xây dựng xã nông thôn mới hiện đại, từng bước nâng cao chất lượng phát triển kinh tế, đời sống người dân, môi trường và hiệu quả quản trị ở cơ sở.
Về khó khăn khi triển khai, thực tế ghi nhận ba vấn đề lớn. Một là, sau sáp nhập, tỉnh có sự khác biệt về đặc điểm địa hình, quy mô phát triển giữa các xã do địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, điều kiện kinh tế - xã hội và hạ tầng khác nhau. Hai là, nguồn lực thực hiện còn hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư hoàn thiện hạ tầng, môi trường và phát triển sản xuất rất lớn. Ba là, năng lực tổ chức thực hiện ở cấp xã cần tiếp tục được củng cố do đây là năm đầu triển khai Chương trình giai đoạn mới với nhiều cơ chế vừa được ban hành, cùng với áp lực công việc gia tăng sau khi chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp.
Về định hướng thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát thực trạng từng xã theo đúng Bộ tiêu chí và nhóm xã đã được phê duyệt để xây dựng lộ trình thực hiện cụ thể.
Sở sẽ tham mưu phân bổ và sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các xã còn nhiều hạn chế về hạ tầng, sinh kế, đồng thời khuyến khích các xã thuận lợi phát huy lợi thế hướng tới nông thôn mới hiện đại.
Để hoàn thành các mục tiêu của Bộ tiêu chí mới trong điều kiện ngân sách nhà nước có hạn, Sở có định hướng và giải pháp chiến lược nào để thu hút sự tham gia mạnh mẽ hơn của cộng đồng doanh nghiệp và người dân?
Theo tôi, để thực hiện hiệu quả Chương trình trong giai đoạn 2026-2030, bên cạnh nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân và các tổ chức xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng. Quan điểm của Sở Nông nghiệp và Môi trường là: "Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ và tạo cơ chế; doanh nghiệp, người dân là những chủ thể cùng tham gia, cùng hưởng lợi và cùng có trách nhiệm trong quá trình xây dựng nông thôn mới gắn với công tác giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi".
Để tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa, Sở tập trung tham mưu và triển khai đồng bộ các giải pháp. Việc huy động nguồn lực trước hết phải gắn với lợi ích thiết thực của doanh nghiệp và người dân, trọng tâm là phát triển sản xuất, liên kết tiêu thụ nông sản, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn. Đồng thời, các cơ quan chức năng sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia đầu tư vào khu vực nông thôn thông qua việc rà soát nhu cầu, giới thiệu tiềm năng, cải thiện môi trường đầu tư và tháo gỡ khó khăn thuộc phạm vi quản lý.
Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư được đẩy mạnh qua công tác tuyên truyền, khuyến khích đóng góp tự nguyện bằng ngày công, hiến đất, bảo vệ công trình và giữ gìn vệ sinh môi trường.
Sở cũng chú trọng sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhà nước để dẫn dắt, khơi thông các nguồn lực khác, ưu tiên đầu tư trọng tâm vào nhu cầu thiết yếu để tạo tác động lan tỏa.
Cuối cùng, các mô hình huy động nguồn lực hiệu quả sẽ được lựa chọn để phổ biến, nhân rộng, đi kèm với công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả sử dụng nguồn lực nhằm củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Việc huy động nguồn lực xã hội hóa không chỉ là vận động thêm kinh phí, mà quan trọng hơn là tạo cơ chế để các nguồn lực được kết nối, sử dụng hiệu quả và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và cộng đồng. Khi người dân thực sự được thụ hưởng thành quả, doanh nghiệp có môi trường đầu tư thuận lợi và các khoản đóng góp được quản lý minh bạch, Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển lâu dài, thực chất và bền vững.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!